Xã Lăng Yên

I. Thông tin chung

- Email: ubndlangyentk@caobang.gov.vn

- Địa điểm trụ sở xã Lăng Yên: Xóm Pác Nà, xã Lăng Yên, huyện Trùng Khánh ,Tỉnh Cao Bằng

                               * Danh sách các đồng chí lãnh đạo xã 

STT

Họ Và Tên

Chức Vụ

Số điện thoại

1

Ngô Văn Rậư

Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND xã

01685.953.648

2

Nông Thị Ngân

Phó Bí thư Đảng uỷ xã

0986.564.338

3

Lục Văn Huấn

Chủ tịch.UBND xã

01245.546.248

4

Hà Văn Phú

Phó chủ tịch UBND xã

01693.390.584

5

Nông Văn Minh

Phó chủ tịch UBND xã

10666.277.472

6 Nông Văn Đức Phó chủ tịch HĐND xã  

              

 II. Giới thiệu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

 1 Vị trí địa lý.

 Lăng Yên là một xã vùng sâu, biên giới đặc biệt khó khăn cách trung tâm huyện 9,5 km, về phía bắc của huyện Trùng Khánh, xã có 07 xóm hành chính có tổng diện tích tự nhiên là: 1.689,99 ha. Các vị trí tiếp giáp với xã như sau:

Phía Đông giáp với xã Ngọc Trung, xã Lăng Hiếu huyện Trùng Khánh.

Phía Tây giáp với Huyện Trà Lĩnh.

Phía Nam giáp với Huyện Trà Lĩnh, Trung Phúc, xã Lăng Hiếu

Phía Bắc giáp Trung Quốc.

* Vị trí địa lý là xã miền núi nên địa hình ở đây chủ yếu là đồi, núi cao xen kẽ là thung lũng có thể sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, đa số đồi núi là đất lâm nghiệp

2. Địa hình.

Địa hình là xã vùng cao nên địa hình ở đây chủ yếu là núi cao xen kẽ là những thung lũng có thể sử dụng váo mục đích sản xuất nông nghiệp, đa số đồi núi là đất lâm nghiệp.

3. Điều kiện khí hậu.

Xã có khí hậu nhiệt đới và nhiệt đới gió mùa với những đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hàng năm. Lượng mưa trung bình là 200 – 250 mm, nhiệt độ trung bình là 200C- 240C và độ ẩm không khí trung bình là 80%-90%

Mùa khô: Kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau. Các tháng giá rét thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 lượng mưa trung bình là 20 – 40mm thấp nhất là 10 – 20mm nhiệt độ trung bình 80C – 150C và độ ẩm trung bình hàng tháng là 70%-80%.

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.500mm-2000mm

4. Tài nguyên.

Tổng diện tích đất tự nhiên xã 1.689,99 ha, trong đó đất nông nghiệp là 1.627,01 ha chiếm 96,27%; đất phi nông nghiệp là 57,61% ha chiếm 3,41%, đất chưa sử dụng 5,37 ha chiếm 0,32%.

Tổng diện tích đất Lâm nghiệp 1.311,29ha chiếm 80,59% tổng diện tích đất nông nghiệp, toàn bộ là đất rừng hộ.

Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã được khai thác từ hai nguồn nước mặt và nước ngầm

Nước mặt có 0,61ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng gồm toàn bộ hệ thống suối, ao và kênh lạch nhỏ như suối Pác Nà, suối Đông Niểng… Ngoài ra còn có đập thủy lợi các mỏ cấp nước sinh hoạt, sản xuất.

Tài nguyên nhân văn xã có 02 dân tộc Tày và Nùng sinh sống, tổng số hộ 285 với 1256 nhân khẩu có phong tục tập quán riêng, đặc trưng đã tạo ra các hoạt động văn hóa phong phú, đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc.

III. Tổng quát về tình hình cơ sở hạ tầng của xã

1. Điện: Hiện nay nhân dân trong xã được sử dụng điện lưới quốc gia 100% được Nhà nước đầu tư: Nhìn chung hệ thống điện trên địa bàn xã tương đối tốt, tuy nhiên hệ thống điện chiếu sáng hiện nay tại trung tâm xã chưa có, cần được đầu tư, nâng cấp để đảm bảo tốt hơn nhu cầu của người dân.

2. Đường giao thôn

Hệ thồng giao thông trên địa bàn xã đi lại còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều đoạn ngõ xóm và đường trục nội đồng là đường đất nên vẫn bị lầy lội trong mùa mưa ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của người dân.

3. Trường học: Trên địa bàn xã Lăng Yên chỉ có trường Mầm non và trường Tiểu học, không có trường THCS, các em học sinh trường THCS hiện đang đi học tại trường THCS xã Lăng Hiếu.

Trường Mầm non: Trường Mầm non xã có 01 điểm trường mầm non chính tại xóm Pác Nà và 01 điểm trường lẻ tại xóm Rằng Rang.

 Trường tiểu học: Trường tiểu học trung tâm tại xóm Pác Nà và 02 điểm trường tại xóm Rằng Rang và Bản Chiên, trường chưa đạt chuẩn

Nhìn chung cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị trường học hiện nay chưa đạt, cần đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu dạy và học của con em trên địa bàn.

4. Y tế: Trạm y tế xã là nhà cấp 04 được xây dựng từ năm 2002 với diện tích khuôn viên là 388 m2. Trạm gồm có 04 phòng chức năng, chưa có các công trình phụ trợ như vườn thuốc nam, nhà công vụ, nhà kho, nhà bếp…;

Trang thiết bị trạm y tế còn nghèo nàn, thiếu thốn cần được đầu tư trang bị để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân trên địa bàn.

* Công tác y tế:

Đội ngũ cán bộ của trạm y tế có 04 người trong đó có: 01 Bác sỹ, 01 Y sỹ và 02nữ hộ sinh. 100% các xóm đều có cán bộ y tế thôn bản; Mạng lưới y tế dự phòng, công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu được chú trọng phát triển. Nhiều chương trình được triển khai tốt như tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống bướu cổ. Đến nay có 100% trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vác xin theo quy định.

Hệ thống thủy lợi              

Tổng số phai đập trên địa bàn xã có 13 cái lơn nhỏ trong đó có 04 đập đã được kiến cố hóa chiếm 30,77%

*Tiềm năng của xã: có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội như có đường tỉnh lộ 211 đi qua địa phận xã, đường liên xã nối liền với các xã, huyện xung quanh. Do đó thuận lợi giao lưu kinh tế văn hóa, chính trị tạo điều kiện giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế xã hội

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt dới gió mùa nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp như trồng ngô, lúa, đỗ tương, thuốc lá, sắn…và chăn nuôi gia súc gia cầm.

Là xã thuần nông, người dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp đang từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật trên diện rộng.

Có quỹ đất phù hợp cho phát triển trồng ngô, lúa và một số cây màu khác trở thành thương phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Bên cạnh những tiềm năng về phát triển kinh tế xã hội, xã còn gặp nhiều khó khăn: như lực lượng lao động dồi dào tuy nhiên trình độ lao động còn nhiều hạn chế do gặp khó khăn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Mạng lưới giao thông nông thôn trên địa bàn đa số vẫn là đường cấp phối và đường đất, người dân đi lại gặp nhiều khó khăn.

Nguồn nước phục vụ cho sản xuất chủ yếu là hệ thống nước tự chảy, phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên.

Trình độ sản xuất còn hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hình thức sản xuất chủ yếu vẫn là theo hướng cá thể do đó gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn đáp ứng theo nhu cầu của thị trường.

Không có nội dung nào được liệt vào phân loại này.

Đăng kí nhận RSS - Xã Lăng Yên